1. Mô tả thực trạng rối loạn cương dương của nam
giới ở một số khu vực và bước đầu nghiên cứu hiệu lực, tính an toàn của bài thuốc
y học cổ truyền btd trong điều trị liệt dương
Tiến hành phỏng vấn về đời sống sinh
hoạt tình dục trên 764 đối tượng nam giới độ tuổi từ 20 đến 65 tại bốn nơi bao
gồm Kim Bảng (Nam Hà), Chí Linh (Hải Dương), Cao Lãnh (Đồng Tháp) và ĐH Nông
Nghiệp I. Kết quả như sau:
Mức độ phổ biến của
chứng bất lực là 15,7%, trong khi hoạt động tình dục giảm xuống 58,3%.
Hoạt động tình dục
phụ thuộc vào lứa tuổi, nghề nghiệp, rượu, chế độ ăn uống và…, tâm lý, ứng xử
tình dục phía nữ giới, phương pháp…., số lượng con cái, bệnh tật và loại thuốc
đã được sử dụng.
Kết quả nghiên cứu
độc tính trên thí nghiệm về BTD chỉ ra rằng:
Tìm thấy LD50
của BTD với liều tối đa là 45g BTD/kg chuột.
Độc tính bán trường
diễn: Không có bất cứ thay đổi nào về huyết học sinh hóa, với liều lượng từ 1 –
10g/ 24h tương đương với 10 lần liều dùng trên cơ thể người (P>0,05).
Những kết quả
nghiên cứu lâm sàng chỉ ra BTD có hiệu quả điều trị chứng bất lực thể hiện ở
những kết quả sau: Mức độ A 62,5%, mức độ B 31,25% trong đó 6,25% không có kết
quả. BTD không có phản ứng phụ.
2. Tác dụng điều hòa miễn dịch của chè tan qct trong điều
trị mày đay dị ứng mạn tính
Những kết quả điều
tra từ 35 bệnh nhân Mày đay mạn tính của Der. Pte và Der. Far đã chỉ ra rằng
những bệnh nhân này đã có những biểu hiện dị ứng ở mức trung bình: Tỉ lệ mất
hạt nhỏ của mastocyte từ 21-30%, nồng độ của IgE trong huyết tương và chất lỏng
bề mặt lần lượt là 7.84-10,72% kUI/l và 15,34-18,7%kUI/l. Chỉ số miễn dịch cho
thấy có vấn đề về sự điều hòa hệ thống miễn dịch trong cơ thể những người bệnh
này: Lyphocytes TCD4(+) giảm xuống (531 ± 274), lượng
TCD8(+)tăng lên (1355 ± 424), tỉ lệ TCD4(+)/TCD8(+) giảm xuống (0,452 ± 0,312),
chỉ số kích thích (SI) của PHA thấp hẳn so với một người
bình thường (SI 2 got 34,3%). Những thay đổi được ghi nhận sau đợt điều
trị trong 04 tuần với liều lượng là 01 túi chè tan QCT (10g) uống hai lần một
ngày đã cho thấy xu hướng khả quan về chỉ số miễn dịch trên bệnh nhân: Mức độ
giảm của chỉ số miễn dịch chỉ ra rằng tỉ lệ mất hạt nhỏ của bạch cầu giảm đi
(p<0,01), SI giảm xuống (p<0,01), độ lắng của IgE trong huyết tương và
chất lỏng bề mặt giảm xuống (p<0,01). Sự điều chỉnh trong hệ thống
miễn dịch của người bệnh có xu hướng trở lại bình thường: Số lượng của Lymphô
TCD4(+) bào tăng lên (p < 0,01), số lượng của Lymphô bào TCD8(+) giảm xuống
(p< 0,05), tỉ lệ TCD4(+)/TCD8(+) (p < 0,01) tăng lên. Sự thay đổi
tương quan về số lượng giữa TCD4(+) và TCD8(+) trong điều trị có sự tương quan
phản tuyến tính mạnh nhất (R2 = 0,648).
3. Nghiên cứu thực nghiệm tác dụng kích thích tăng trưởng
tế bào fibroblasts của polyphenolic chiết xuất từ alocasia macrorrhiza
Alocasia
macrorrhiza là một loài cây thân mềm, cao khoảng 0,3 đến 1,4, sinh trưởng nơi
ẩm thấp tại Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Australia, miền Nam Trung Quốc. Phần củ
loại cây này được sử dụng tại Việt Nam từ năm 1993 để
điều trị các mô mềm, vết bỏng, loét. Một số nghiên cứu chỉ ra chiết xuất của
Alocasia macrorrhiza có khả năng ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn và nấm
(staphyloccocus aureus, Escherichia Coli, Samonella Para typhi, Candida
albicans). Một thử nghiệm lâm sàng theo dõi chiết xuất của Alocasia đã được
tiến hành tại Viện Bỏng, Việt Nam vào khoảng năm
1997 – 1998 trên 36 bệnh nhân bỏng nông và trung bình 188,7 cm2. Hiệu quả
kích thích về tái biểu mô hóa của chiết xuất Alocasia tương đương với điều trị bằng kem Flamazine 1% và thời gian diều trị trung
bình ở người lớn là 11,4 ± 2,5 ngày.
Trong nghiên cứu
trong ống nghiệm trước chúng tôi đã cho thấy hiệu quả chống Oxi hóa trong
khoảng 2,5 đến 250g/ml có ý nghĩa trong việc bảo vệ tế bào nguyên sợi chống lại
các gốc tự do
4. Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng sinh học một
số loài tầm gửi
Năm loài tầm gửi
(Taxillus chinensis, Scurrula gracilifolia, Macrosolen affinis robinsonii,
Macrosolen tricolor, Macrosolen cochinchinensis) đã được đem ra nghiên cứu về
thành phần hóa học. Chúng chứa flavonoid, tannin, free sugars…, đặc biệt là hai
giống tầm gửi trong số đó mọc trên Nerium oleander có chứa Glycoside của tim.
Bảy tố chất đã được
tách ra từ tầm gửi. Trên cơ sở phân tích của m.p UV, IR, MS, 1H-NMR, DEPT 90,
135, HMQC, HMBC, COSY, chúng tôi nhận thấy có
sự xuất hiện của Quercetin,Quercetin 3-O-xylosid; Quercetin-3-O rhamnosid; 5, 6
- dimethoxy-7, 3′, 4′ - trihydroxyflavon; 5, 7, 4′ -
trihydroxy-flavanon-3-O-rhamnosid; Methyl brevifolincarboxylat; 5, 5′ -
dimethoxylaricirecinol.
Nghiên cứu về độc
tính cấp tính của tầm gửi đã chỉ ra tầm gửi trên cây “Nerium oleander” có độc.
Chiết xuất Flavonoid từ tầm gửi có tác dụng loại bỏ gốc anion superoxide và
những thuộc tính chống oxi hóa bảo vệ gan và vỏ não ở chuột.
5. Hệ thống huyệt, nguyên khí, mạch khí và hệ thống
thần kinh
Hoàng
Bảo Châu
Mục đích xem
xét công năng của huyệt, nguyên khí, mạch khí có tương ứng với công năng của hệ
thống thần kinh hay không. Phương pháp tiến hành là so sánh cách nhìn của YHCT
với xác định của YHHĐ về các nội dung hệ thống huyệt với hệ thống cơ quan cảm
thụ, nguyên khí với hệ thần kinh thực vật và mạch khí với hệ thống ngoại vi của
hệ thần kinh vận động. Kết quả thu được là công năng của hệ thống huyệt cũng là
công năng của hệ thống cơ quan cảm thụ, công năng của nguyên khí là của hệ thần
kinh thực vật, của mạch khí là của hệ thống ngoại vi của hệ thần kinh vận động,
thận não tủy là thần kinh trung ương.
Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương - Email: yhcotruyen@hinet.net.vn Theo giấy phép số 106 / GP-BC do Cục báo chí cấp ngày 10/03/2004.
Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế.
Chịu trách nhiệm: TS. Trần Quốc Bình.
Địa chỉ: 29 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hà nội. Tel: 84-4-38263616.
Fax:84-4- 38229353.
Lượt truy cập: 349331 - Hiện đang có 3 người đang Online Thiết kế bởi www.nhipsongOnline.com